LỊCH VẠN NĂNG


LINK GIẢI TRÍ PHIM

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Thầy Phạm Khắc Tuấn)
  • (Thầy Mạc Thiên An)
  • (Nguyễn Tấn Phát)
  • (Lê Hữu Kỳ Quan)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Ảnh ngẫu nhiên

Images54.jpg Diendanhaiduongcom19072_21.jpg Mua_thu_la_bay.swf Que_huong2.swf Code_Tro_ve_trang_chu_va_Tro_len_tren1.gif Flash_thiep1.swf VT_CO_NHAC.swf DANH_NGON_1.swf Xakhoi12.swf VOC_VUI_veduyen.swf Chukyhot34.gif The_first_moment.flv ONG_XA_TOI_NUMBERONE.flv Xuan_da_ve.swf GSW_3.flv Logo_511.jpg 4_khau_nam_le_1.flv Saonhonhung1.swf

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Nguyễn Công Trứ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Tấn Phát (trang riêng)
    Ngày gửi: 09h:26' 23-04-2009
    Dung lượng: 98.5 KB
    Số lượt tải: 6
    Số lượt thích: 0 người
    
    
    
    Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc Nợ tang bồng vay trả, trả vay Chí làm trai nam bắc đông tây Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể...
    Đôi dòng tiểu sử
    Nguyễn Công Trứ (1778-1858) hiệu là Ngộ Trai, tự là Hy Văn, quê quán tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ Tĩnh.
    Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng. Cụ thân sinh là Nguyễn Tần, đỗ Hương Cống đời nhà Lê.
    Buổi thiếu thời, dù sống trong cảnh hàn vi, ông luôn cố công trau dồi kinh sử để mong thi đỗ ra làm quan giúp dân, giúp nước. Sau nhiều lần thi hỏng, ông cuối cùng đậu Tú Tài năm 1813 và đậu Giải Nguyên năm 1819.
    Hoạn lộ của ông lắm bước thăng trầm: ông làm quan ở nhiều tỉnh, nhiều vùng, có khi lên đến Binh Bộ Thượng Thư, nhưng cũng có lắm lần bị dèm pha giáng chức. Ông giúp triều đình nhà Nguyễn đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa lớn (Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Phan Bá Vành...); làm Doanh Điền Sứ, giúp dân khai khẩn đất hoang (1828)...
    Ông mất ngày 7 tháng 12 năm 1858 tại chính quán, thọ 81 tuổi, được phong tước Dinh Bình Hầu.
    Nguyễn Công Trứ để lại nhiều tác phẩm chữ Hán (câu đối, sớ) cũng như chữ Nôm (thơ, hát nói, phú, câu đối, ca trù...). Thơ văn Nguyễn Công Trứ phản ảnh khá trung thực sự biến chuyển tâm lý của một nhà nho cổ điển qua từng giai đoạn đời sống. Phần lớn các tác phẩm hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững chắc, một chí khí mạnh mẽ, và thái độ cầu tiến, vươn lên. Lúc về già, sáng tác của ông lại tìm về tư tưởng an nhàn, hưởng lạc.
    Tác Phẩm Chọn Lọc
    Than Nghèo Đi Thi Tự Vịnh Chí Nam Nhi  Chí Làm Trai Phận Sự Làm Trai Gánh Gạo Đưa Chồng Ngất Ngưởng Kẻ Sĩ Cây Thông Vịnh Hàn Tín Chữ Tình Chữ Nhàn Cầm Kỳ Thi Tửu Thoát Vòng Danh Lợi Vịnh Tiền Xích Bích Vịnh Hậu Xích Bích Tương Tư Vịnh Thúy Kiều Già Cưới Nàng Hầu


    Tài liệu tham khảo
    Việt Văn Độc Bản, Đàm Xuân Thiều & Trần Trọng San.
    Nguyễn Công Trứ, Con Người và Sự Nghiệp, Chu Trọng Huyến.
    Nguyễn Công Trứ -- Đạo Làm Người, Vũ Ký.
    Hy Văn Tướng Công Di Truyện, Lê Xuân Giáo.
    Việt Nam Thi Văn Giảng Luận, Hà Như Chi.
    Việt Nam Ca Trù Biên Khảo, Đỗ Bằng Đoàn & Đỗ Trọng Huề.
    Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ XIX, Nguyễn Lộc.
    Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm.
    Đại Nam Liệt Truyện, Quốc Sử Quán nhà Nguyễn.

     
    Gửi ý kiến